nen-logo-3333

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 HÀ NỘI

a-nen-111_-_copy

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM

Pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới đều có các quy định để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (sau đây viết tắt là SHTT). Các chủ thể quyền SHTT (bao gồm chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT) được quyền tự bảo vệ trước các hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, theo đó chủ SHTT có thể lựa chọn nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu của mình quy định tại khoản 1 điều 198 Luật sở hữu trí tuệ (sau đây viết tắt là Luật SHTT), như:

- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền SHTT;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo quy định của Luật SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan như Bộ luật hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính...;

- Khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi xin đi sâu vào quy định tại Chương XVII Luật SHTT về giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT tại Tòa án của Việt Nam, có thể hiểu rằng đây là những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng quy định để chủ thể quyền SHTT yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm phạm của người khác; đồng thời là trình tự, thủ tục để Tòa án tiến hành giải quyết yêu cầu đó.

Giải quyết tranh chấp về quyền SHTT bằng biện pháp dân sự được đánh giá là cơ chế bảo vệ phổ biến và hữu hiệu nhất trên thế giới hiện nay. Các quy định của pháp luật Việt Nam, biện pháp dân sự cũng thể hiện được những ưu thế riêng so với biện pháp hành chính và biện pháp hình sự. Nếu như biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có ý nghĩa ngăn chặn hành vi xâm phạm, áp dụng các chế tài hành chính hoặc hình sự nhằm răn đe, giáo dục các đối tượng vi phạm thì trong biện pháp dân sự, chủ thể quyền SHTT bên cạnh quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm gây ra cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, qua thực tiễn thụ lý và giải quyết những vụ tranh chấp về quyền SHTT tại Tòa án Việt Nam trong những năm qua cho thấy có rất ít tranh chấp được đưa ra giải quyết tại Tòa án, điều này không phản ánh đúng diễn biến tình hình tranh chấp về quyền SHTT trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Chúng tôi xin phép không đưa số liệu thụ lý và giải quyết các vụ tranh chấp về quyền SHTT trong những năm qua tại Tòa án Việt Nam vì số liệu thống kê hiện nay không chính xác, nhưng có thể nói là tỷ lệ các tranh chấp được khởi kiện đến Tòa án là rất ít so với các loại tranh chấp khác (ngay cả địa bàn thủ đô Hà Nội là một ví dụ).

Qua công tác giải quyết các vụ tranh chấp về quyền SHTT chúng tôi có một số đánh giá về những khó khăn, vướng mắc của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT dẫn đến việccác đương sự không lựa chọn việc giải quyết tranh chấp quyền SHTT bằng biện pháp dân sự tại Tòa án, mà thường lựa chọn biện pháp yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước xử phạt hành chính như sau:

  1. Do tâm lý e ngại của chủ SHTT về việc khởi kiện và chế tài được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm còn chưa đủ sức răn đe:

Mặc dù bị thiệt hại rất lớn cả về uy tín và kinh tế do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng đa số các chủ thể quyền không lựa chọn biện pháp khởi kiện dân sự bởi tâm lý e ngại, dè dặt, không muốn tham gia tố tụngvì thủ tục khởi kiện rườm rà, mất thời gian theo đuổi vụ kiện, chi phí tốn kém hay phải bộc lộ các thông tin cần bảo mật về bí mật kinh doanh hay bí mật của chính các đối tượng quyền sở hữu..., chủSHTT còn chưa ý thức được một cách rõ ràng quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi khởi kiện bên vi phạm.

Chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, cho nên chưa đủ sức răn đe người vi phạm. Có nhiều trường hợp vi phạm bị xử lý xong lại tiếp tục vi phạm và chấp nhận nộp phạt vì lợi nhuận cao hơn rất nhiều nêngiảm tính hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp củaTòa án.

  1. Thời gian giải quyết vụ việc của Tòa án bị kéo dài và tốn kém chi phí:

Việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT là vấn đề khó, đòi hỏi có kỹ thuật chuyên môn sâu, liên quan đến nhiều bên, nhiều cơ quan chuyên môn, yếu tố nước ngoài... nên quá trình cung cấp tài liệu, chứng cứ giữa các bên đương sự thường mất nhiều thời gian. Điều này dẫn đến việc giải quyết của Tòa án thường bị kéo dài, có trường hợp phải xét xử nhiều lần, qua nhiều cấp Tòa án, gây tốn kém cả về thời gian và tiền bạc của chủ sở hữu. Việc kéo dài thời gian giải quyết vụ kiện cũng gây bất lợi cho chủ SHTTvì họ thường bị giới hạn trong một thời gian nhất định. Mặt khác, việc chậm giải quyết đã không đáp ứng kịp thời đối với hoạt động khai thác quyền của chủ SHTT.

Theo quy định tại điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS), thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự là 4 tháng, vụ án kinh doanh thương mại là 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể gia hạn nhưng không quá 2 tháng đối với những vụ án dân sự và 01 tháng đối với vụ án kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, với thực tế nêu trên thì việc Tòa án có thể đáp ứng được thời gian quy định này là điều hết sức khó khăn. Có nhiều vụ án kéo dài nhiều năm vì phải đợi kết quả giám định hoặc đợi kết quả giải quyếtvụ án hành chính hay kết quả giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước khác, kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ…

Đối với những vụ án có yếu tố nước ngoài, Tòa án phải làm thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài, dịch tài liệu… rất mất thời gian, đặc biệt đối với những nước mà Việt Nam chưa ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp song phương hoặc tham gia những điều ước quốc tế đa phương hoặc những quốc gia sử dụng ngôn ngữ không thông dụng.

Việc thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập các đương sự cũng rất mất thời gian trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Nhiều đương sự cố tình chống đối việc Tòa án triệu tập, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ làm quá trình giải quyết vụ án và thi hành án bị kéo dài quá thời hạn xét xử.

Do vụ kiện dân sự về quyền SHTT thường bị kéo dài, quá trình giải quyết tại Tòa án phải trải qua nhiều thủ tục gây tốn kém về thời gian cho chủ sở hữu trí tuệ trong quá trình đi đòi quyền lợi của mình.Mặt khác, do việc giải quyết tranh chấp về quyền SHTTtại Tòa án nơi bị đơn có trụ sở/địa chỉ giải quyết nên trong nhiều vụ kiện mà nguyên đơn có trụ sở/địa chỉ khác với bị đơn thì việc đi lại để tham gia tố tụng là hết sức tốn kém về thời gian và tiền bạc.

Ngoài ra, để khởi kiện dân sự hầu hết các chủ SHTT đều phải thuê Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và phải thanh toán khoản chi phí này. Mặc dù Luật SHTT có quy định bị đơn phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê Luật sư nhưng nhiều trường hợp chủ thể quyền không được Tòa án chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một phần chi phí này.

  1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án bị phụ thuộc nhiều vào kết luận của cơ quan chuyên môn về SHTT:

Tranh chấp về quyền SHTT là vấn đề rất khó, đòi hỏi người giải quyết phải có chuyên môn sâu về lĩnh vực SHTT. Trong khi đó, Tòa án Việt Nam chưa có các Thẩm phán xét xử chuyên sâu về lĩnh vực này nên các Thẩm phán gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm phạm quyền SHTT. Vì vậy, đa số các vụ án tranh chấp về quyền SHTT, Tòa án phải phụ thuộc vào kết luận của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan giám định về SHTT để kết luận có hay không có hành vi xâm phạm quyền SHTT dẫn đến tình trạng bị động, phụ thuộc vào kết quả giám định để ra phán quyết. Việc này cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thời gian xét xử bị kéo dài nhất là trong trường hợp các ý kiến chuyên môn có sự không thống nhất.

Trong việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền SHTT thì kết quả trưng cầu giám định hoặc kết luận các yếu tố vi phạm của cơ quan có thẩm quyền về việc có hay không có hành vi xâm phạm quyền SHTT có giá trị quan trọng để Tòa án dùng làm căn cứ giải quyết các vụ án tranh chấp về SHTT được chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.

Bên cạnh đó, việc nhìn nhận, đánh giá về các hành vi xâm phạm quyền SHTT của các cơ quan chức năng nhiều khi không thống nhất được quan điểm. Cũng chính vì sự thiếu thống nhất về quan điểm giữa các cơ quan chức năng trong lĩnh vực SHTT này đã dẫn tới nhiều trường hợp, sau khi có phán quyết của Tòa án phúc thẩm đối với vụ án rồi nhưng các bên đương sự vẫn viện dẫn các ý kiến đối lập với loại ý kiến được tham khảo để ra phán quyết để tiếp tục khiếu nại, yêu cầu xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, gây ra khiếu kiện kéo dài, ảnh hưởng đến ổn định xã hội.

  1. Số lượng tổ chức giám định và giám định viên quá ít trong khi số lượng vụ việc cần giám định lớn:

Hiện nay mới chỉ có 03 tổ chức thực hiện giám định đó là:

- Viện sở hữu trí tuệ quốc gia: thực hiện giám định sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý;

- Trung tâm giám định, thông tin và chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan: thực hiện giám định quyền tác giả, quyền liên quan;

- Trung tâm giám định và chứng thực bản quyền tác giả số Việt Nam: thực hiện giám định quyền tác giả, quyền liên quan.

  1. Vềsố lượng giám định viên của các tổ chức giám định hiện nay:

- Giám định viên về sở hữu công nghiệp: gồm 10 người trong đó có 2 người thuộc Viện sở hữu trí tuệ quốc gia, 8 người là giám định viên độc lập.

Ngoài ra, còn có 04 Giám định viên tư pháp theo vụ việc (2 Giám định viên Sáng chế, 1 Giám định viên Kiểu dáng và 1 Giám định viên nhãn hiệu);

- Giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan: chỉ có 02 người.

Tuy số lượng Giám định viên có tăng hơn so với thời kỳ trước nhưng số lượng Giám định viên thường xuyên thực hiện việc giám định chiếm tỉ lệ rất nhỏ:

+ Chỉ có 01 giám định viên hoạt động tại Viện sở hữu trí tuệ quốc gia thường xuyên thực hiện việc giám định;

+ Các giám định viên độc lập hầu như không thực hiện việc giám định do không được yêu cầu hoặc được yêu cầu nhưng từ chối thực hiện;

+ Giám định viên tư pháp theo vụ việc: là cán bộ làm việc kiêm nhiệm, đa số chưa quen với quy trình thủ tục tố tụng nên gặp nhiều lúng túng, khó khăn trong việc giám định.

Khi cần trưng cầu giám định, giám định lại: khó tìm được giám định viên, tổ chức giám định thực hiện để đảm bảo tính khách quan, nhiều trường hợp Tòa án trưng cầu giám định với chínhGiám định viên đã thực hiện việc giám định trước đó theo yêu cầu của đương sự, điều này đặt vấn đề là việc giám định lại có khách quan hay không.

  1. Tham khảo ý kiến chuyên gia:

Trong một số vụ án, bên cạnh kết luận giám định, Tòa án vẫn có văn bản đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về SHTT cung cấp ý kiến chuyên gia về vụ việc đang giải quyết.

Thực trạng hiện nay, các ý kiến chuyên gia chưa có sự phân tích cụ thể về sự việc, thường chỉ nêu kết luận dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng. Ngoài ra, nội dung của ý kiến chuyên gia cũng xác định hành vi xâm phạm quyền, trái với quy định của điều 200 Luật SHTT.

  1. Thẩm quyền của Tòa án được giao giải quyết tranh chấp quyền SHTT hiện nay và chuyên môn của Thẩm phán còn nhiều hạn chế

Pháp luật về bảo hộ quyền SHTT là lĩnh vực pháp luật còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Mặc dù trong thời gian qua ngành Tòa án cũng đã có sự quan tâm đúng mức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về pháp luật SHTT cho đội ngũ Thẩm phán, song do tính phức tạp và đa dạng của các tranh chấp về quyền SHTT nên một số Thẩm phán vẫn gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền SHTT vì chưa đủ trình độ chuyên sâu về lĩnh vực này.

Tại nhiều Tòa án, nhất là các Tòa án địa phương thì số lượng Thẩm phán có chuyên môn về quyền SHTT còn rất hạn chế. Điều này dẫn đến các Bản án, Quyết định của Tòa án chưa mang tính thuyết phục cao, chưa tạo được lòng tin đối với chủ thể quyền, nhiều Bản án, Quyết định bị kháng cáo, kháng nghị...

Qua thực tiễn, chúng tôi thấy hiện này còn có các cách hiểu khác nhau về thẩm quyền của Tòa án khi thụ lý tranh chấp về quyền SHTT theo điều 26 hay điều 30 BLTTDS, ngay cả Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết tranh chấp về thẩm quyền cũng có sự nhầm lẫn về vấn đề này. Đây cũng là lý do mà chúng tôi cho rằng cần thiết phải xây dựng Tòa chuyên trách SHTT trong 02 Tòa án khu vực trên cả nước đặt tại Hà Nội và HCM như sau:

Tranh chấp về quyền SHTT có thể thuộc tranh chấp về dân sự (khoản 4 điều 26 BLTTDS hoặc thuộc tranh chấp về kinh doanh thương mại (khoản 2 điều 30 BLTTDS) được phân biệt như sau:

Nếu tranh chấp về quyền SHTT được xác định là tranh chấp dân sự, theo quy định hiện hành thì Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, trừ trường hợp đương sự tranh chấp có yếu tố nước ngoài, đối tượng tranh chấp ở nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài (điểm a khoản 1, khoản 3 điều 35 BLTTDS).

Nếu tranh chấp về quyền SHTT được xác định là tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm (điểm a khoản 1 điều 37 BLTTDS).

Ngày 03/2/2023, Tòa án thành phố Hà Nội đã có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cho Tòa án hai cấp của Hà Nội (văn bản này do chính tôi là nguời soạn thảo), tại mục 7 đã hướng dẫn phân biệt khoản 4 điều 26 và khoản 2 điều 30 BLTTDS. Tuy nhiên, khi tôi được điều chuyển về làm Chánh án của Tòa án nhân dân quận Đống Đa tôi mới phát hiện ra có 01 vụ án tranh chấp quyền sở hữu một bài hát hiện đang được khai thác thương mại Tòa án Đống Đa đã thụ lý gần 10 năm nay đáng lý ra là thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế, Tòa án thành phố Hà Nội nhưng Tòa án Đống Đa lại thụ lý, sau đó chuyển vào Tòa án quận của thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết, hai bên có tranh chấp về thẩm quyền và Tòa án nhân dân tối cao đã có văn bản giải quyết thẩm quyền và xác định là Tòa án Đống Đa có thẩm quyền giải quyết. Khi tôi về lại được báo cáo xin chuyển lên Tòa án thành phố Hà Nội để giải quyết và tôi đã không đồng ý và yêu cầu lên kế hoạch xét xử vào sau ngày 01/7/2025 theo thẩm quyền mới của Tòa án khu vực II.

Trên thực tế, khi nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền SHTT thường chỉ xác định mục đích lợi nhuận của bị đơn nên có Tòa án xác định là vụ án kinh doanh, thương mại, nhưng cũng có Tòa án lại xác định là vụ án dân sự từ đó dẫn đến tình trạng sự việc tương tự nhau về bản chất nhưng có thể được xét xử ở các cấp Tòa án khác nhau hoặc có sự đùn đẩy giữa hai cấp Tòa án, gây khó khăn cho người khởi kiện.

Việc sắp tới đây, với chủ trương thay đổi, sắp xếp lại các cơ quan trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, trong đó có ngành Tòa án nói chung, thì Tòa án khu vực II của thành phố Hà Nội và khu vực I của thành phố Hồ Chí Minh sẽ được giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp về quyền SHTT chúng tôi cho rằng đây là một bước đột phá và sẽ không còn những trường hợp tranh chấp về thẩm quyền như đã nêu trên, ngoài ra trong 02 Tòa án khu vực nêu trên sẽ có các Tòa chuyên trách với các Thẩm phán có chuyên môn sâu, kỹ năng về giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT tốt thì sẽ lấy lại được niềm tin của người dân và các doanh nghiệp khi lựa chọn Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Chúng tôi kiến nghị rằng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời tiếp tục chú trọng hiệu quả việc xử lý những vụ việc xâm phạm quyền SHTT để có thể tương thích với các nước trên thế giới trong tương lai gần.

  1. Khó khăn trong việc xác định thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm quyền SHTT gây ra:

Theo quy định của BLTTDS thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án về mức độ thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm quyền SHTT do bên kia gây ra. Đây là một khó khăn rất lớn cho nguyên đơn đi khởi kiện bởi rất ít trường hợp chủ SHTT có thể thu thập được khoản lợi nhuận bất hợp pháp mà bị đơn đã thu được từ hành vi xâm phạm quyền SHTT hoặc không chứng minh được mức độ thiệt hại của mình do hành vi xâm phạm SHTTgây ra mặc dù hành vi xâm phạm và thiệt hại thực tế đã xảy ra. Vì vậy, yêu cầu đòi bồi thường của chủ SHTT thường ít được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại.

  1. Khó khăn trong việc chứng minh quyền sở hữu hợp pháphoặc quyền của mình đối với sản phẩm bị vi phạm

Trong một số trường hợp, nhất là các vụ án tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan do đặc thù quyền sở hữu phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo, định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký nên chủ sở hữu gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền của mình đối với sản phẩm bị vi phạm dẫn đến việc có thể yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

  1. Khó khăn trong việc xác định chủ thể vi phạm khi hành vi vi phạm được thực hiện trên môi trường số.
  2. Thiếu các biện pháp khẩn cấp tạm thời hữu hiệu đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT

Giống như quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án của chủ thể quyền SHTT là một trong những ưu điểm của biện pháp dân sự so với các biện pháp hình sự và hành chính, tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các hành vi vi phạm quyền SHTT còn chưa thực sự hữu hiệu.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại điều 102 BLTTDS, gồm có 12 biện pháp, nhưng trong số 12 biện pháp nêu trên thì trong quan hệ tranh chấp về quyền SHTT, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây: kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài khoản tại Ngân hàng, Kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài sản của người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định.

Điều 207 Luật SHTT quy định bổ sung một số biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTTbao gồm thu giữ, kê biên,niêm phong, cấm thay đổi hiện trạng, cấm di chuyển và cấm chuyển dịch quyền sở hữu.

Như vậy, có thể thấy các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật hiện hành có thể áp dụng trong các vụ án tranh chấp về quyền SHTT là tương đối ít, đặc biệt là các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định trong BLTTDS chưa được cụ thể hóa đối với các tranh chấp về quyền SHTT, còn mang tính chung chung. Điều này đã gây không ít khó khăn cho chủ SHTT trong việc yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa góp phần làm ngăn chặn một cách nhanh chóng, kịp thời các hành vi xâm phạm quyền SHTT. Điều này cũng đồng nghĩa với việc ưu thế về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa được phát huy trên thực tiễn. Thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền SHTT tại Tòa án trong những năm qua chúng tôi thấy rất ít trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Như vậy, với thời gian giải quyết kéo dài cộng với việc các hành vi xâm phạm chưa được ngăn chặn một cách kịp thời có thể là nguyên nhân dẫn đến việc các chủ SHTT còn nhiều e ngại trong việc khởi kiện ra Tòa án để xử lý bằng biện pháp dân sự mà thay vào đó, họ chọn việc xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính.

  1. Vấn đề thi hành các Bản án dân sự về SHTT gặp nhiều khó khăn:

Việc thi hành các Bản án có hiệu lực về quyền SHTT hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do bị đơn chuyển trụ sở/địa chỉ, ngừng hoạt động, không xác định được tài sản của bị đơn... dẫn đến việc mặc dù Bản án, Quyết định có hiệu lực nhưng không thể thi hành hoặc thời gian thi hành bị kéo dài gây thiệt hại cho người được thi hành án.

Đối với hàng hóa vi phạm quyền SHTT đã lưu thông trên thị trường, việc tiêu hủy số hàng hóa này của cơ quan thi hành án gặp rất nhiều khó khăn. Có những sản phẩm tuy vi phạm quyền SHTT như vi phạm kiểu dáng công nghiệp, trong một vụ án mà tôi trực tiếp xét xử thì các sản phẩm này là các trạm biến áp được sử dụng trong ngành điện và hiện đang hoạt động, nếu buộc tiêu hủy thì rất tốn kém và ảnh hưởng đến hoạt động chung của ngành điện và nhân dân trong các địa bàn lắp đặt các máy trên, trong vụ án này nguyên đơn cũng chỉ dám yêu cầu Tòa án tuyên buộc bồi thường mà không buộc tiêu hủy.

  1. Vấn đề biên chế của các Tòa án khu vực được giao giải quyết các tranh chấp về SHTT

Hiện nay TAND Khu vực 1- TP Hồ Chí Minh và TAND Khu vực 2- Hà Nội được giao nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp về SHTT với một địa bàn rộng lớn và các tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, nhất là tính chất phức tạp của loại việc này, hiện nay nhiều vụ tranh chấp được thực hiện trên không gian mạng mà nguyên đơn và Tòa án chưa thể xác định được bị đơn và việc thu thập tài liệu trên các trang mạng gặp nhất nhiều khó khăn đòi hỏi nhân lực và sự hiểu biết của các Thẩm phán, Thư ký rất nhiều. Tuy hai Tòa án khu vực trên được giao nhiệm vụ nhưng chưa được tăng biên chế nên thiếu Thẩm phán và Thư ký để có thể đưa đị đào tạo chuyên sâu, đặc biệt các cán bộ trẻ và có ngoại ngữ. Chúng tôi cho rằng TAND tối cao cần hỗ trợ và bổ sung nhân lực cho hai Tòa án trên để đáp ứng được yêu cầu được giao và hội nhập cùng các nước trên thế giới.

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT tại Việt Nam.

TÒA ÁN NHÂN DÂU KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
Trụ sở chính: Số 30 đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ cơ sở 2: Khu liên cơ nội chính, ngõ 27 Lê Văn Lương, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Thời gian làm việc: Từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần
Buổi sáng từ: 8h00 đến 12h00
Buổi chiều từ: 13h00 đến 17h00
Website: toaannhandankhuvuc2-hanoi.com.vn
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
In bài viết
TIN TỨC
  • Tin hoạt động TAND Tối cao

  • Tin tức hoạt động TAND cấp Thành phố

  • Tin hoạt động Thành phố

  • Tin xét xử

Tìm kiếm
Hỗ trợ trực tuyến

hot

 

LIÊN KẾT WEBSITE

m1

mm2

cong_ly

 

 

HÌNH ẢNH

ok555

 

z6874737431732_efb9d055d992f23c966910cd098d4e1d

 

z6809570082160_3cababc69774073c4c49e34617dc231b

ĐỐI TÁC
bn-f6
bn-f8
bn-f7
bn-f5
bn-f4
bn-f3

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI

Trụ sở chính: Số 30 đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng, thành phố Hà Nội.

  • Trụ sở chính: Số 30 đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng, thành phố Hà Nội.
  • Địa chỉ cơ sở 2: Khu liên cơ nội chính, ngõ 27 Lê Văn Lương, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  • Thời gian làm việc: Từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần
  • Buổi sáng từ: 8h00 đến 12h00
  • Buổi chiều từ: 13h00 đến 17h00
  • Website: toaannhandankhuvuc2-hanoi.com.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân khu vực 2 thành phố Hà Nội.